Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế: Thực trạng và giải pháp

17/11/2023 73 lượt xem
Cỡ chữ

Tóm tắt: Doanh nghiệp nhà nước luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của Việt Nam. Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như trong huy động nguồn lực cho sự phát triển. Bài viết gồm ba nội dung chính: Tìm hiểu khái niệm, vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam; phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam, đánh giá thành tựu đạt được và những hạn chế, tồn tại; đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
 
Từ khóa: Doanh nghiệp nhà nước, thực trạng, nguyên nhân, giải pháp, Việt Nam.
 
OPERATIONS OF STATE-OWNED ENTERPRISES IN THE CONTEXT OF INTERNATIONAL INTEGRATION: CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS
 
Abstract: State-owned enterprises always play a very important role in Vietnam’s economic development. After more than 35 years of innovation (1986 – 2022), despite achieving important results, the contribution of Vietnam’s state-owned enterprises to the economy is still not commensurate with its potential. The state-owned enterprise sector still has some shortcomings and limitations in the process of production and business activities as well as in mobilizing resources for development. This article includes 3 main contents: Understanding the concept, role and characteristics of Vietnam’s state-owned enterprises; analyzing the current situation of operations of Vietnam’s state-owned enterprises, assessing achievements acquired and existing limitations; proposing solutions to improve the operational efficiency of Vietnam’s state-owned enterprises in the current context of deep international integration.
 
Keywords: State-owned enterprises, current situation, cause, solution, Vietnam.
 
1. Doanh nghiệp nhà nước: Khái niệm, vai trò và đặc điểm
 
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Ở Việt Nam, từ năm 2021, doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định pháp luật.
 
Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản như: Thứ nhất, Nhà nước hoặc Nhà nước cùng với các tổ chức, cá nhân khác là chủ đầu tư. Với tư cách là chủ đầu tư duy nhất của doanh nghiệp, Nhà nước có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, Nhà nước có quyền quyết định về việc hình thành, tái tổ chức và quyết định mục tiêu, chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, đầu tư tài chính; quyết định mô hình tổ chức quản lí, giải thể; kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp. Thứ hai, Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (100%) hoặc sở hữu phần vốn góp chi phối (trên 50% nhưng dưới 100% vốn điều lệ). Thứ ba, có nhiều hình thức tồn tại của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nhà nước do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì có các loại hình doanh nghiệp như công ty nhà nước, công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước. Nếu doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ thì có thể tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp như: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Thứ tư, doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp. Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển
 
hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội
 

Doanh nghiệp nhà nước đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, an sinh xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao, thể hiện vai trò nòng cốt trong một số ngành, lĩnh vực và tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước; góp phần dẫn dắt, tạo động lực cho khu vực ngoài nhà nước phát triển. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước thể hiện rõ trên những khía cạnh sau:
 
Một là, số lượng doanh nghiệp nhà nước mặc dù chỉ chiếm gần 0,4% số lượng doanh nghiệp đang hoạt động nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn đang nắm giữ nhiều nguồn lực quan trọng của nền kinh tế, chiếm khoảng 25,78% tổng vốn sản xuất, kinh doanh và 23,4% giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn của các doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất, kinh doanh.
 
Hai là, doanh nghiệp nhà nước có vai trò lớn trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Theo Cục Điều tiết điện lực (Bộ Công Thương) về thị trường phát điện Việt Nam, các nhà máy điện thuộc các tập đoàn kinh tế nhà nước (Tập đoàn Điện lực Việt Nam – EVN, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam – PVN, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam – PVN) chiếm khoảng 87% trong cơ cấu nguồn điện.
 
Ba là, doanh nghiệp nhà nước có vai trò lớn trong sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước trực tiếp tham gia phục vụ an ninh – quốc phòng, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, kết hợp phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Các doanh nghiệp nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội, trước hết là hạ tầng giao thông, nông nghiệp, nông thôn, năng lượng, viễn thông. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội, phục vụ chính sách điều tiết kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bình ổn giá.
 
Doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất quan trọng trong thực tiễn của đời sống kinh tế – xã hội, đó là, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, huy động nguồn vốn, tăng môi trường cạnh tranh, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí tiên phong trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại, trình độ quản lí tiên tiến, tăng năng suất lao động và đi đầu về chất lượng, hiệu quả kinh tế.
 
Trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, doanh nghiệp nhà nước có vai trò quan trọng trong dẫn dắt, tạo động lực, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển, hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, từ đó, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị gia tăng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong bối cảnh dịch Covid-19 cùng những biến động trong khu vực và quốc tế, vai trò của khu vực doanh nghiệp nhà nước đã được phát huy và thể hiện rất rõ nét. Doanh nghiệp nhà nước đã tích cực triển khai và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, tham gia phòng, chống dịch Covid-19.
 
Với vai trò là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, sự phát triển hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước sẽ trực tiếp gia tăng sức mạnh của kinh tế nhà nước, góp phần khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo nền tảng vững chắc của nền kinh tế độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng.
 
2. Hoạt động của doanh nghiệp nhà nước: Thành tựu và hạn chế
 
Doanh nghiệp nhà nước được xác định là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Việt Nam hiện có khoảng gần 500 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và gần 200 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (trong số 350 doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước). Các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước đang nắm giữ chiếm khoảng 7% tổng tài sản và 10% vốn chủ sở hữu của toàn bộ doanh nghiệp trên thị trường. Tổng tài sản của khối doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 4 triệu tỉ đồng năm 20211; quy mô tài sản bình quân của mỗi doanh nghiệp nhà nước là 4.100 tỉ đồng, cao gấp 10 lần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và gấp 109 lần doanh nghiệp tư nhân trong nước.
 
Dù chỉ chiếm 0,4% trong tổng số doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp nhà nước đã huy động được 9,65 triệu tỉ đồng vốn cho sản xuất, kinh doanh, với doanh thu thuần cao nhất là 13,41 triệu tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 323,64 nghìn tỉ đồng, trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tới 96,9% tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng chỉ thu hút được 22,25 triệu tỉ đồng vốn, doanh thu đạt 3,41 triệu tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 190,36 nghìn tỉ đồng. Năm 2021, tổng doanh thu của khối doanh nghiệp nhà nước vượt 43,3% kế hoạch, tăng 7,8% so với năm 2020; lợi nhuận trước thuế vượt kế hoạch 41,7%, tăng 22,5% so với năm 2020, nộp ngân sách chiếm 17 – 23% tổng thu ngân sách nhà nước2.
 
Năm 2023, tổng doanh thu của toàn khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1,41 triệu tỉ đồng, tăng 4% so với kế hoạch3. Khoảng 478 doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và 198 doanh nghiệp do Nhà nước nắm cổ phần chi phối. Trong bối cảnh Covid-19, doanh nghiệp nhà nước đã đạt được những thành tựu kinh tế nổi bật như:
 
Thứ nhất, mặc dù số lượng doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm chưa đến 0,4% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (năm 2021) nhưng hoạt động hiệu quả với hiệu suất sử dụng lao động cao nhất so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác (18,9 lần); hiệu suất sinh lợi trên doanh thu (ROS) của toàn bộ khu vực doanh nghiệp đạt 3,4%, trong đó doanh nghiệp nhà nước đạt mức cao nhất (5,8%).
 
Thứ hai, các chỉ số tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh cho thấy có sự tăng trưởng, phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng. Năm 2021, tổng giá trị tài sản đạt 2.965.425 tỉ đồng (tăng 8%), vốn chủ sở hữu đạt 1.445.877 tỉ đồng (tăng 17%), lợi nhuận trước thuế đạt 122.347 tỉ đồng (tăng 5%) so với năm 2016. Tỉ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân cả giai đoạn 2016 – 2020 là 10,46%.
 
Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế vĩ mô, chiếm thị phần lớn trong một số lĩnh vực như năng lượng, viễn thông, ngân hàng. Trong lĩnh vực năng lượng, các nhà máy điện của EVN, TKV, PVN cung cấp 87% sản lượng điện cho xã hội.
 
Trong lĩnh vực viễn thông, thị phần của ba doanh nghiệp nhà nước (Viettel, VNPT, MobiFone) có vai trò chi phối (với thị phần trên 90%). Doanh nghiệp nhà nước cung cấp đầu vào quan trọng cho nền kinh tế (điện, than, dầu khí, alumin…). Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước đang làm tốt vai trò của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, an sinh xã hội.
 
Dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng hoạt động và đóng góp của khối doanh nghiệp nhà nước vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như trong huy động nguồn lực. Vai trò dẫn dắt, tạo động lực, mở đường, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác chưa được phát huy rõ nét. Năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế, đặc biệt trong các ngành có khả năng dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế như các công nghệ lõi, công nghệ số trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các ngành năng lượng mới, năng lượng sạch, các ngành chứa đựng giá trị khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cao. Hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ, vẫn còn doanh nghiệp, dự án sản xuất, kinh doanh hiệu quả thấp, thua lỗ kéo dài.
 
Năm 2022, có 64/676 doanh nghiệp có phát sinh lỗ 29.456 tỉ đồng. Các doanh nghiệp nhà nước có nợ phải trả là 1,98 triệu tỉ đồng, tăng 6% so với năm 2021. Tổng lỗ phát sinh của cả khu vực doanh nghiệp nhà nước trong 6 tháng đầu năm 2023 là 33.639 tỉ đồng4
 
Doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện rõ vai trò nổi bật trong việc dẫn dắt, tạo động lực, thúc đẩy các thành phần khác phát triển, thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị gia tăng. Việc tham gia bảo đảm cân đối, ổn định kinh tế vĩ mô chưa rõ. Doanh nghiệp nhà nước còn yếu ở những ngành có ảnh hưởng, quyết định đến việc hỗ trợ nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và của khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong hỗ trợ và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, phát triển kinh tế – xã hội, chuyển dịch cơ cấu tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn chưa nổi bật. Bên cạnh một số doanh nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện để các thành phần kinh tế khác, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào quá trình sản xuất, hầu hết các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoạt động trong ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn đều vận hành theo phương thức khép kín, thực hiện gần như toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh để tạo thành chuỗi sản xuất khép kín nội bộ, chưa tạo nhiều điều kiện để doanh nghiệp khác tham gia.
 
Những tồn tại, hạn chế trong hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được thể hiện cụ thể trên những khía cạnh sau:
 
Một là, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Kết quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đạt được dựa trên các lợi thế sẵn có của doanh nghiệp hoặc có lịch sử hoạt động lâu đời trên thị trường. Hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Đóng góp vào thu ngân sách nhà nước có xu hướng giảm dần, từ 15,67%  năm 2015 xuống còn khoảng 10,64% năm 2019 (không bao gồm thu cổ tức, lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp nhà nước, tiền bán cổ phần sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp). Chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thấp. Doanh nghiệp nhà nước có tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận thấp hơn tốc độ tăng trưởng nguồn vốn kinh doanh. So với doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) thì doanh nghiệp nhà nước có tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận thấp hơn. Nghĩa là, doanh nghiệp nhà nước phải sử dụng nhiều vốn hơn để tạo ra được một giá trị sản phẩm đầu ra, là yếu tố làm giảm hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
 
Hai là, vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong dẫn dắt, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ngoài nhà nước, thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá trị gia tăng còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn hoạt động trong ngành, lĩnh vực then chốt, mũi nhọn đều vận hành theo cơ chế tương đối khép kín, chưa khuyến khích các doanh nghiệp ngoài nhà nước tham gia vào các khâu, công đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh. Kinh tế nhà nước chưa làm tròn nhiệm vụ hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
 
Ba là, khả năng cạnh tranh, đặc biệt cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp nhà nước, trong đó có doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn chưa đạt kết quả rõ nét. Tỉ trọng kinh tế nhà nước trong tăng trưởng kinh tế giảm, hiệu quả đầu tư của kinh tế nhà nước ngày càng thấp. Nếu sử dụng xuất khẩu là tiêu chí, thước đo để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì có thể thấy khả năng cạnh tranh và vươn ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn còn hạn chế.
 
Nguyên nhân chính dẫn đến những tồn tại, hạn chế trên là do: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về doanh nghiệp nhà nước, trong đó có tập đoàn kinh tế, tổng công ty được rà soát và hoàn thiện nhưng vẫn còn bất cập. Đặc biệt hệ thống pháp luật về đầu tư, quản lí tài sản, đất đai, đấu giá, đấu thầu chưa đồng bộ, tạo kẽ hở để một số đối tượng lợi dụng nhằm trục lợi. Bên cạnh đó, chưa có định hướng, chiến lược phát triển cho khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng bền vững; chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực chưa gắn với chiến lược phát triển của doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước. Đặc biệt, doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn chưa phát huy hết tính chủ động trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trên thực tế, các quy trình, thủ tục của cơ quan đại diện chủ sở hữu theo quy định của pháp luật thường có độ trễ nhất định, trong khi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải đưa ra những quyết định nhanh, kịp thời để đón cơ hội đầu tư. Có thể tóm tắt ba nhóm nguyên nhân chính dẫn đến những hạn chế, tồn tại của doanh nghiệp nhà nước, đó là:
 
Nguyên nhân từ quan điểm, nhận thức: Tư duy, nhận thức về vai trò, vị trí của doanh nghiệp nhà nước chưa thống nhất dẫn tới lúng túng trong hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện. Một số vấn đề còn chậm được tổng kết thực tiễn, kết luận để có thể cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật, như vấn đề vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong thực hiện vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vấn đề trao quyền tự chủ của doanh nghiệp nhà nước, vấn đề sử dụng doanh nghiệp nhà nước làm công cụ điều tiết kinh tế.
 
Nguyên nhân từ cơ chế, chính sách: Hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nhà nước chưa đồng bộ; quy trình thủ tục, báo cáo, phê duyệt nhiều cấp, chưa được phân cấp triệt để. Sự chậm trễ trong việc ra quyết định làm mất đi cơ hội, giảm hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế, chính sách quản lí đối với doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập, thiếu hệ tiêu chí đánh giá. Doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự có quyền tự chủ theo cơ chế thị trường; quy định về doanh nghiệp nhà nước bị phân tán tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật, được ban hành ở các thời điểm khác nhau, do các cơ quan ban hành khác nhau nên có những quy định vướng mắc, chồng chéo nhất định.
 
Chưa có cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty để thực hiện vai trò mở đường, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác; chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích thúc đẩy mối liên kết giữa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty với các doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng tham gia vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị.
 
Nguyên nhân từ nội tại doanh nghiệp nhà nước: Do nhiều yếu tố cấu thành nên bản thân doanh nghiệp nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp và thích ứng với yêu cầu và bối cảnh phát triển kinh tế thị trường. Việc đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước còn chậm, chưa đạt kế hoạch đề ra. Mặc dù đã có sự chỉ đạo, nỗ lực của tất cả các bên hữu quan nhưng mục tiêu cổ phần hóa vẫn tiếp tục bị đẩy lùi thời hạn. Doanh nghiệp nhà nước vẫn hiện diện trong nhiều ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không cần duy trì sở hữu vốn.
 
Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chưa tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu và vươn ra quốc tế. Doanh nghiệp nhà nước chưa thật sự quyết tâm đầu tư vào các dự án trong lĩnh vực mới, có tác động lớn và lan tỏa tới phát triển kinh tế – xã hội. Năng lực nghiên cứu, đầu tư vào các lĩnh vực mới còn thiếu, kinh nghiệm quản lí đầu tư xây dựng dự án hạn chế, thiếu đội ngũ cán bộ chuyên môn, kĩ thuật. Hệ thống quản lí, giám sát doanh nghiệp nhà nước không theo kịp với yêu cầu thực tiễn, thiếu hiệu lực và kém hiệu quả. Công tác công khai, minh bạch thông tin còn hạn chế.
 
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước
 
Sự cần thiết tồn tại doanh nghiệp nhà nước là tất yếu trong mọi nền kinh tế. Tuy nhiên, để xác định đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp nhà nước cần có những giải pháp đột phá nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, đó là:
 
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường để đặt các doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp của khu vực tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững của nền kinh tế. Lấy thước đo hiệu quả kinh tế làm kim chỉ nam cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng vận hành, tiến tới xóa bỏ các rào cản, khác biệt trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước với doanh nghiệp các khu vực kinh tế khác.
 
Ưu tiên cải cách thể chế theo hướng đồng bộ dựa trên nền tảng Hiến pháp, Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật của tổ chức nhà nước. Rà soát các quy định liên quan đến hoạt động của năm loại thị trường, gồm: Thị trường hàng hóa, tài chính, lao động, công nghệ và bất động sản để đồng bộ hóa theo hướng giảm can thiệp của Nhà nước, tăng tính thị trường.
 
Thể chế cần bảo đảm huy động và quản lí có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn đầu tư tài chính, nguồn ngân sách nhà nước. Thể chế phải đảm bảo phân bổ nguồn lực đầu tư cho phát triển thực sự hiệu quả, khắc phục sự đầu tư dàn trải, đầu tư được xác định hiệu quả chưa thực sự rõ ràng. Thiết lập thể chế thúc đẩy sự sáng tạo, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo, nuôi dưỡng sự sáng tạo trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Tập trung thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo quốc gia theo hướng xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, có cơ chế tài chính thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của doanh nghiệp với tôn chỉ doanh nghiệp là trung tâm; đổi mới cơ chế đầu tư, tài trợ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; có chính sách để phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; kết nối cộng đồng khoa học và công nghệ của người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng trong nước. Xây dựng các cơ chế, chính sách về thuế, tài chính nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho các hoạt động đổi mới công nghệ, nghiên cứu phát triển và đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ thông tin và các công nghệ tiên tiến khác.
 
Cùng với việc hoàn thiện thể chế để các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, dần gỡ bỏ sự can thiệp của bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước thực sự tự chủ, chỉ hoạt động theo pháp luật và môi trường cạnh tranh với doanh nghiệp của các khu vực kinh tế khác hướng tới tạo hiệu ứng hiệu quả tổng thể của nền kinh tế dưới tác động của cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu.
 
Thứ hai, đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước cần được đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại cho đúng chức năng, nhiệm vụ đầu tàu, dẫn dắt, định hướng; đẩy mạnh tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, xử lí dứt điểm những hạn chế, yếu kém trong công tác tổ chức, quản lí, điều hành của một số doanh nghiệp nhà nước đang tạo lỗ hổng cho tham nhũng, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài.
 
Tăng đầu tư, tăng đổi mới sáng tạo và áp dụng khoa học công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động để doanh nghiệp nhà nước thực hiện vị trí, vai trò mở đường, dẫn dắt, tạo động lực cho nền kinh tế. Để làm được điều đó, cần có giải pháp cụ thể phát huy lợi thế, huy động và khai thác có hiệu nguồn lực mà doanh nghiệp nhà nước đang quản lí và sử dụng. Xây dựng hệ thống cơ chế vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả quyền của chủ sở hữu; vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt trong các ngành kinh tế chủ lực. Doanh nghiệp nhà nước đầu đàn, dẫn dắt cần phải “nghĩ lớn, làm lớn”, đầu tư các dự án quy mô lớn, có tính chất lan tỏa đối với nền kinh tế và các thành phần kinh tế khác.
 
Đổi mới doanh nghiệp nhà nước cần phân tách thành hai nhóm là doanh nghiệp nhà nước cung ứng các dịch vụ công ích và nhóm doanh nghiệp nhà nước hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, trở thành tập đoàn lớn có sự hỗ trợ của Chính phủ. Nhóm doanh nghiệp nhà nước cung ứng các dịch vụ công ích là các doanh nghiệp giao cho tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lí, đầu tư và phát triển. Kết quả hoạt động của nhóm doanh nghiệp nhà nước cung ứng các dịch vụ công ích là cơ sở để tổ chức đảng và nhân dân đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của chính quyền cơ sở. Đối với nhóm doanh nghiệp nhà nước hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, cần thực hiện cơ chế Nhà nước là một cổ đông nắm giữ cổ phần tại doanh nghiệp, tăng quyền tự chủ cho doanh nghiệp và buộc tuân theo các quy định pháp luật về doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nước cần đổi mới trình độ quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế, tăng cường tính minh bạch, tự chủ về công nghệ, có năng lực cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài tại thị trường trong nước và thị trường quốc tế, có tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm và dịch vụ cao, có khả năng kết nối với hệ thống doanh nghiệp tư nhân trong nước để hình thành chuỗi sản xuất hiện đại và bền vững.
 
Đổi mới cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo chỉ tiêu tài chính tổng thể, không đi theo từng dự án, hoạt động. Đẩy mạnh sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước. Thực hiện nhất quán và triệt để nguyên tắc thị trường trong thoái vốn nhà nước đã đầu tư vào ngành không phải kinh doanh chính hoặc không trực tiếp liên quan với ngành kinh doanh chính. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những ngành, lĩnh vực cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Song song với quá trình thu hẹp diện doanh nghiệp nhà nước là tiếp tục thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
 
Thứ ba, huy động nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước tham gia vào phát triển kinh tế – xã hội. Xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Huy động mọi nguồn lực của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào một số dự án quan trọng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, như: Năng lượng (trong đó ưu tiên năng lượng tái tạo, năng lượng sạch), công nghiệp bán dẫn, đầu tư hạ tầng giao thông quan trọng quốc gia (như đường cao tốc, đường sắt, càng hàng không, cảng biển), hạ tầng chuyển đổi số, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu, cung ứng các nguyên vật liệu đầu vào quan trọng cho sản xuất (như luyện thép, hóa dầu) trên cơ sở thế mạnh, ngành nghề kinh doanh chính của doanh nghiệp.
 
Khuyến khích hợp tác giữa doanh nghiệp nhà nước với nhau và với các doanh nghiệp tư nhân để thực hiện các dự án quy mô lớn, nâng cao hiệu quả tổng thể chuỗi dự án nhằm phát triển chuỗi giá trị của ngành, lĩnh vực, mở rộng không gian kinh doanh trên nguyên tắc các bên cùng đạt hiệu quả. Thu hút các nguồn lực tài chính vào các doanh nghiệp, dự án lớn, quan trọng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
 
Thứ tư, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện tinh giản bộ máy, thiết lập hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước. Phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, xung đột lợi ích, tình trạng móc ngoặc, hình thành “lợi ích nhóm”, “sân sau”, lạm dụng chức vụ, quyền hạn thao túng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, trục lợi cá nhân, tham nhũng, lãng phí, gây tổn hại cho Nhà nước và doanh nghiệp.
 
Tăng cường áp dụng mô hình kinh doanh mới, sử dụng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường để nâng cao năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh. Giải quyết dứt điểm tình trạng đầu tư dàn trải, bảo đảm các doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chính. Chú trọng nâng cao giá trị thương hiệu, đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp; tiết kiệm tối đa chi phí, tối ưu hóa các nguồn lực về vốn, đất đai của doanh nghiệp nhà nước, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ, đẩy mạnh xây dựng uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp nhà nước trên thị trường trong nước và quốc tế.  
 
Tách nhiệm vụ cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích với nhiệm vụ kinh doanh thông thường của doanh nghiệp nhà nước; tách hoạt động kinh doanh với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, xã hội của doanh nghiệp nhà nước. Xác định rõ, minh bạch chi phí cho các hoạt động phi thương mại. Mọi khoản chi từ ngân sách nhà nước cho thực hiện các nhiệm vụ phi thương mại của doanh nghiệp nhà nước phải được công bố trong báo cáo tài chính. Tăng cường giám sát các hoạt động phi thương mại để có đánh giá và công khai hiệu quả hoạt động phi thương mại đối với doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thiện thể chế quản lí và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu. Triệt để áp dụng nguyên tắc tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động đầu tư, huy động vốn đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh. Quán triệt nguyên tắc ràng buộc ngân sách trong mọi hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, áp đặt ngân sách cứng để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ xác định.
 
Thứ năm, đẩy mạnh hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhà nước để thực hiện vai trò mở đường, dẫn dắt các lĩnh vực chính. Trên thực tế, doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự được coi là một đối tượng quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chưa có quy định, chính sách ràng buộc hợp tác, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước để phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; thiếu cơ chế tài chính phù hợp để thực hiện đầu tư, phát triển; thiếu các giải pháp cụ thể để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo hướng thúc đẩy phát triển khoa học – công nghệ. Do vậy doanh nghiệp cần đóng vai trò chủ động, là trung tâm của hoạt động đổi mới công nghệ, trong đó doanh nghiệp nhà nước là đối tượng quan trọng. Đổi mới công nghệ là nhu cầu tự thân vận động của doanh nghiệp, nhà nước chỉ tạo môi trường pháp lí thuận lợi, chứ không làm thay. Thực hiện hiệu quả và đồng bộ các cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là chính sách hỗ trợ về tài chính nhằm thúc đẩy doanh nghiệp triển khai các hoạt động đổi mới công nghệ và cải thiện năng lực quản trị công nghệ. Chú trọng tổ chức đào tạo về quản lí công nghệ và cập nhật công nghệ mới cho doanh nghiệp. Tăng cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về đổi mới công nghệ cho cán bộ quản lí doanh nghiệp. Hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, ứng dụng công nghệ tiên tiến, đào tạo, thuê chuyên gia thiết kế, sản xuất sản phẩm mới và thay đổi quy trình công nghệ. Hỗ trợ hình thành các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp khoa học – công nghệ thực hiện nghiên cứu và ứng dụng sản xuất sản phẩm mới. Hỗ trợ doanh nghiệp kinh phí sử dụng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia để nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm mới. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác với các tổ chức khoa học và công nghệ, cá nhân và doanh nghiệp nước ngoài phát triển công nghệ, tham gia các triển lãm, hội chợ công nghệ và thiết bị ở nước ngoài. Tổ chức, phối hợp và hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc hợp tác với các tổ chức và cá nhân hoạt động khoa học – công nghệ để tiến tới làm chủ công nghệ nhập khẩu, qua đó nâng cao tính tự chủ và khả năng quản trị công nghệ.
 
Chọn lựa các doanh nghiệp quy mô lớn, có năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo để thực hiện vai trò mở đường, dẫn dắt trong việc đầu tư phát triển một số ngành, lĩnh vực mới, có tính chất quan trọng của nền kinh tế, tập trung dẫn dắt trong bốn lĩnh vực chính là công nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, tài chính – ngân hàng và kết cấu hạ tầng.
 
Thứ sáu, phát huy vai trò của tổ chức Đảng; coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra trong các doanh nghiệp nhà nước. Nâng cao hiệu quả và vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức Đảng trong việc chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đảm bảo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, chỉ đạo trong thực hiện nhiệm vụ chính trị và quản lí cán bộ. Quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu tổ chức Đảng trong doanh nghiệp nhà nước khi để xảy ra thua lỗ, tổn thất, sai phạm trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
 
Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, phòng, chống tham nhũng nhằm nắm bắt, đánh giá đúng đắn về việc chấp hành pháp luật, phát hiện sớm sai phạm, qua đó kịp thời chấn chỉnh, áp dụng các biện pháp phù hợp giúp doanh nghiệp khắc phục những tồn tại, hạn chế để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh.
 
Tóm lại, trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động loại hình này, qua đó, nhóm tác giả mong muốn góp phần đạt được mục tiêu đề ra theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: Mục tiêu đạt 100% tập đoàn kinh tế nhà nước có dự án triển khai mới năm 2025, trong đó có một số dự án đầu tư tiêu biểu, có tính chất dẫn dắt, lan tỏa, mang thương hiệu của doanh nghiệp nhà nước; phấn đấu có ít nhất 25 doanh nghiệp nhà nước có vốn chủ sở hữu hoặc vốn hóa trên thị trường chứng khoán đạt trên 1 tỉ USD, trong đó có ít nhất 10 doanh nghiệp đạt mức trên 5 tỉ USD và 100% doanh nghiệp nhà nước có định hướng và thực hiện chuyển dịch đầu tư, hướng đến các dự án đầu tư, sử dụng công nghệ xanh, sạch và giảm thải khí carbon; đóng góp của các tập đoàn kinh tế nhà nước vào ngân sách nhà nước bình quân tăng 5% – 10% trong giai đoạn 2021 – 2025.
 

1 Nguyễn Hòa (2022), 8 giải pháp nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước,
2 Kim Oanh (2022), Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước,
3 Hoàng Lan (2023), Doanh thu của khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1,41 triệu tỉ đồng năm 2023 – Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới,
4 Hoàng Lan (2023), Doanh thu của khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1,41 triệu tỉ đồng năm 2023 – Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới,

Tài liệu tham khảo:
 
1.  Ðảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021.
2. Lê Anh (2022), Kì 2: Tăng cường hiệu quả của khối kinh tế nhà nước trong việc “dẫn lối” với nền kinh tế,
3. Kim Oanh (2022), Khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, 
4. Nguyễn Hòa (2022), 8 giải pháp nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước, 
5. Hoàng Lan (2023), Doanh thu của khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1,41 triệu tỉ đồng năm 2023 – Nhịp sống kinh tế Việt Nam & Thế giới,
6. Doãn Tước (2021), Không thể phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, 
7. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2020), Đánh giá thực hiện vai trò kinh tế nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội của giai đoạn 2011 – 2020; quan điểm, phương hướng giai đoạn 2021 – 2030.


ThS. Lê Thị Thu Hương (Viện Kinh tế và Chính trị thế giới)
PGS., TS. Phạm Thị Thanh Bình (Khoa Kinh tế, Đại học Mở Hà Nội)
 
 

Chia sẻ

In trang

Bình luận
Ý kiến của bạn sẽ được kiểm duyệt trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu


Bình luận

Đóng lại
ok

Bình luận của bạn chờ kiểm duyệt từ Ban biên tập

Các tin tức khác
Xem tất cả

Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam

Pháp luật về bảo lãnh ngân hàng điện tử tại Việt Nam

07/11/2023
483 lượt xem
Bảo lãnh là một trong 09 biện pháp bảo đảm nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Dân sự và được sử dụng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực xã hội, nhất là trong các hoạt động của tổ chức tín dụng. Ngày 30/9/2022, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 11/2022/TT-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng (Thông tư số 11/2022/TT-NHNN), trong đó, tại Điều 9 có điểm mới nổi bật là hoạt động bảo lãnh điện tử.

Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”

Điều hành tỉ giá linh hoạt đã giúp Việt Nam vượt qua những “cú sốc”

28/10/2023
622 lượt xem
Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam hồi tháng 7/2023, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Janet Yellen cho biết: “Bộ Tài chính Hoa Kỳ ghi nhận các thành tựu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong quá trình hiện đại hóa công tác điều hành chính sách tiền tệ, cụ thể là cơ chế điều hành tỉ giá. Tỉ giá đã trở nên linh hoạt và minh bạch hơn. Có thể nói, hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ tỉ giá đang được phát huy tốt, phù hợp với điều kiện của Việt Nam. Hai năm qua, kinh tế thế giới đã trải qua các cú sốc lớn và theo quan điểm của tôi, việc điều hành tỉ giá linh hoạt hơn đã giúp Việt Nam vượt qua những cú sốc này”.

Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế

Nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn cho doanh nghiệp và tăng khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế

18/10/2023
942 lượt xem
Trong 9 tháng đầu năm 2023, bám sát chỉ đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế nhưng không chủ quan với rủi ro lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Tài chính phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam nhìn từ góc độ chính sách

Tài chính phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam nhìn từ góc độ chính sách

13/10/2023
1.307 lượt xem
Những năm qua, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã trở thành chủ đề được phân tích và bàn luận rộng rãi tại nhiều diễn đàn với các góc độ tiếp cận khác nhau. Thực tế cho thấy, tác động của CMCN 4.0 đã và đang hiện diện rõ nét trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội và chính trị tại Việt Nam.

Một số quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi)

Một số quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi)

06/10/2023
2.034 lượt xem
Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sau hơn 12 năm thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã soạn thảo Dự thảo Luật Các TCTD (sửa đổi), dự kiến Chính phủ sẽ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2023).

Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi

03/10/2023
1.938 lượt xem
Rửa tiền là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến sự an toàn và minh bạch của hệ thống tài chính tiền tệ và an ninh quốc gia. Hiện nay, với sự phát triển của môi trường số, sự hỗ trợ của công nghệ khiến hành vi rửa tiền ngày càng trở nên tinh vi, phức tạp và khó kiểm soát. Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi quốc gia trong thời kì hội nhập quốc tế.

Triển khai thực hiện Nghị định số 55/2015/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và một số khuyến nghị

Triển khai thực hiện Nghị định số 55/2015/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế và một số khuyến nghị

29/09/2023
1.881 lượt xem
Trong những năm qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đưa ra nhiều cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo thêm vốn sản xuất, kinh doanh đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn. Một trong những chính sách nổi bật và đã phát huy hiệu quả là Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP được đánh giá là bước đột phá mở rộng cả về đối tượng, hạn mức và thủ tục vay so với các chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn trước đây.

Tín dụng đầu tư của Nhà nước - Sự cần thiết cho đầu tư phát triển quốc gia

Tín dụng đầu tư của Nhà nước – Sự cần thiết cho đầu tư phát triển quốc gia

28/09/2023
1.985 lượt xem
Tín dụng đầu tư của Nhà nước là tín dụng do Nhà nước thực hiện để hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế và các vùng khó khăn cần khuyến khích, nhằm thực hiện định hướng phát triển kinh tế – xã hội từng thời kì.

Đổi mới sáng tạo với phát triển khu đô thị công nghệ cao Việt Nam

Đổi mới sáng tạo với phát triển khu đô thị công nghệ cao Việt Nam

27/09/2023
1.913 lượt xem
Đổi mới sáng tạo cùng với phát triển khoa học, công nghệ đóng vai trò đột phá chiến lược trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và là nhân tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực công nghệ mới.

Để dòng vốn ngân hàng tiếp tục góp phần vào mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

Để dòng vốn ngân hàng tiếp tục góp phần vào mục tiêu tăng trưởng xanh, phát triển bền vững

26/09/2023
2.594 lượt xem
Thời gian qua, hệ thống ngân hàng đã tích cực thực hiện cấp tín dụng cho các ngành, lĩnh vực xanh, phát triển đa dạng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để thực hiện mục tiêu quốc gia về tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, còn nhiều rào cản khiến quy mô tín dụng xanh chưa được như kì vọng.

Kiểm soát hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại ngân hàng và một số kiến nghị hoàn thiện

Kiểm soát hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại ngân hàng và một số kiến nghị hoàn thiện

21/09/2023
2.433 lượt xem
Kiểm soát hoạt động bảo hiểm tiền gửi trong ngân hàng là vấn đề rất cần thiết bởi điều này góp phần đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển an toàn và lành mạnh.

Thông tư số 06 góp phần giảm “tín dụng đen” và hạ lãi suất cho vay

Thông tư số 06 góp phần giảm “tín dụng đen” và hạ lãi suất cho vay

19/09/2023
2.744 lượt xem
Ngày 28/6/2023, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 06/2023/TT-NHNN (Thông tư số 06) sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc NHNN (Thông tư số 39) quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây viết tắt là TCTD) đối với khách hàng.

Phối hợp đồng bộ các giải pháp trong đẩy lùi “tín dụng đen”

Phối hợp đồng bộ các giải pháp trong đẩy lùi “tín dụng đen”

15/09/2023
2.852 lượt xem
Thời gian qua, NHNN đã hoàn thiện khung khổ pháp lí về hoạt động cho vay, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, phát triển các dịch vụ trực tuyến, sửa đổi, bổ sung, ban hành mới nhiều quy định để tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng chính thức, hỗ trợ hoạt động vay vốn của người dân, doanh nghiệp. NHNN cũng thường xuyên chỉ đạo các tổ chức tài chính, tín dụng mở rộng, đa dạng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, giảm lãi suất, đơn giản hóa thủ tục cho vay nhằm tăng cường tiếp cận tín dụng qua các kênh chính thức, đặc biệt là với người dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Nâng cao hiệu quả cải cách hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số ngành Ngân hàng ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả cải cách hành chính trong bối cảnh chuyển đổi số ngành Ngân hàng ở Việt Nam

07/09/2023
3.633 lượt xem
Với sự phát triển của khoa học, công nghệ do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đem lại, quá trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng là một đòi hỏi tất yếu khách quan.

Tập trung nguồn lực để phát triển và nâng cao hiệu quả các kênh cung ứng vốn khác nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp

Tập trung nguồn lực để phát triển và nâng cao hiệu quả các kênh cung ứng vốn khác nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp

05/09/2023
3.704 lượt xem
Nguồn vốn cung ứng cho các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) rất đa dạng, thường qua các kênh chính sau: (1) Thông qua hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), nguồn vốn cấp dựa trên tài sản qua các hình thức như cho thuê tài chính, thuê mua trả góp, bao thanh toán (nguồn vốn này thường được cung cấp bởi các TCTD phi ngân hàng); (2) Thông qua thị trường tài chính bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng qua việc sử dụng các công cụ vốn; (3) Nguồn vốn trực tuyến (cho vay ngang hàng, công nghệ tài chính – fintech).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

jun88

jun88

789win

12Bet

Sex

789win

789win

Jun88